1. LÊ LỢI, NGUYỄN TRÃI, HỘI THỀ LŨNG NHAI VÀ CÔNG CUỘC CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA

Lam Sơn (Thọ Xuân Thanh Hoá) lúc bấy giờ gọi theo tên nôm là làng Cham, là hương thuộc huyện Lương Giang, phủ Thanh Hoá. Đó là một vùng đồi núi thấp, xen kẽ những diải rừng thưa và cánh đồng hẹp. Phía trên, Lam Sơn tiếp giáp với những núi rừng trùng điệp của thượng sông Chu, sông Mã, phía dưới liền với vùng đồng bằng rộng lớn của Thanh Hoá. về mặt giao thông, Lam Sơn nằm bên tả ngạn sông Chu, một mạch máu giao thông quan trọng giữa miền núi và miền biển.

Lam Sơn là quê hương của người anh hùng Lê Lợi và là căn cứ buổi đầu của cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh đạo.

Lê Lợi (1385-1433) vốn là một hào trưởng có uy tín và ảnh hưởng lớn ở vùng Lam Sơn. Bài văn bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn, cho biết rõ ông tổ ba đời của Lê Lợi là Lê Hối đã tổ chức khẩn hoang, lập nên một trang trại ở vùng này. Từ đó “đời đời làm quân trưởng một phương”. Nhân dân địa phương quen gọi Lê Lợi là Đạo Cham.

Bia Vĩnh Lăng ghi: “ Tuy gặp thời loạn lớn mà chí càng bền, ẩn náu trong núi rừng, chăm nghề cầy cấy, vì giận quân giặc tàn bạo lấn hiếp nên càng chuyên tâm về sách thao lược, dốc hết cửa nhà, hậu đãi tân khách”. Theo dõi cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, Lê Lợi “biết rõ thời thế, cho là tất không thành công, bởi thế không dựng và hết sức ẩn kín hình tích, không lộ tiếng tăm”. Lê Lợi bí mật chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa mới và dùng trang trại Lam Sơn cùng với toàn bộ tài sản của mình để lo toan việc lớn.

Đến năm 1416, tại Lũng Nhai – một địa điểm gần Lam Sơn, Lê Lợi cùng 18 người bạn chiến đấu thân cận nhất làm lễ thề kết nghĩa anh em, nguyện một lòng đánh giặc cứu nước. Trong lễ thề có ý nghĩa thiêng liêng đó, 19 người anh hùng đầu tiên của khởi nghĩa Lam Sơn đã trích máu ăn thề với lời thề có đoạn như sau:

“Nay ở nước chúng tôi, phụ đạo chính là Lê Lợi cùng với bọn Lê Lai đến Chương Chiến, 18 người, họ hàng quê quán tuy khác nhau, kết nghĩa thân nhau như cùng một tổ liền cành, phận giàu sang dù khác nhau, nhưng nguyện coi tình như chung một họ không khác.

Nay giặc Ngô xâm chiếm, lùng nhà Trần, bắt họ Hồ, qua cửa quan mà làm hại, nên Lê Lợi cùng với bọn Lê Lai đến Chương Chiến, 18 người, chung sức đồng lòng, giữ gìn đất nước để trăm cõi được sống yên lành, nguyện sống chết có nhau không quên lời thề sắt son”.

Hội thề Lũng Nhai đặt cơ sở cho sự hình thành hạt nhân đầu tiên của bộ tham mưu khởi nghĩa. Trong số những người dự hội thề lịch sử sáng lập ra cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đặc biệt có Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi (1380-1442) sinh tại kinh thành Thăng Long. Cha là Nguyễn Ứng Long sau đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh, đã từng đi dạy học rồi thi đỗ tiến sĩ đời Trần và làm quan dưới triều Hồ. Nguyễn Trãi thi đỗ thái học sinh năm 1400 và cùng tham dự chính quyền nhà Hồ. Khi nhà Hồ thất bại, Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt đầy sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi phải tạm ẩn náu một thời để che mắt quân thù.

Khi gặp Lê Lợi, Nguyễn Trãi dâng tập Bình Ngô sách. Đó là cả một kế sách lớn nhằm diệt giặc cứu nước mà Nguyễn Trãi đã nghiên cứu và ôm ấp từ nhiều năm, nay mới tìm thấy người minh chủ xứng đáng để cống hiến. Theo Lê Quý Đôn thì trong tác phẩm đó, Nguyễn Trãi nêu nên “3 kế sách dẹp giặc Ngô”. Và theo Nguyễn Năng Tĩnh thì Nguyễn Trãi “ không nói đến việc đánh thành mà lại khéo nói việc đánh vào lòng người”. “Đánh vào lòng người” ( Công tâm) có nghĩa là phải dựa vào dân, phải phát huy tinh thần yêu nước, sức mạnh đoàn kết, quyết tâm đánh giặc của toàn dân. Đó là một tư tưởng lớn vạch ra đường lối chính trị và đường lối quân sự nhằm tổ chức một cuộc chiến tranh nhân dân yêu nước chống giặc ngoại xâm.

Sau hội thề Lũng Nhai, công việc chuẩn bị khởi nghĩa được tiến hành một cách khẩn trương. Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa của anh hùng hào kiệt bốn phương, của những người yêu nước từ khắp nơi tìm về cùng mưu đồ sự nghiệp cứu nước. Đó là những người dân của các bản làng xung quanh Lam Sơn và các châu, huyện vùng Thanh Hoá, bao gồm cả miền xuôi và miền núi, dân tộc đa số và dân tộc thiểu số. Đó là những người con ưu tú của dân tộc từ nhiều nơi xa xôi, vượt qua mọi trở ngại tìm đến tụ nghĩa. Trong số những người này có Phạm Văn Xảo, Trần Trại của đất kinh thành, Lưu Nhân Chú cùng với cha là Lưu Trung và em rể là Phạm Cuống từ miền núi Đại Từ (Thái Nguyên), Trần Nguyên Hãn ở Sơn Đông (Vĩnh Phúc), Nguyễn Xí từ vùng ven biển thượng xá (Nghệ An), có cả gia nô của Lê Lợi như Ngô Kinh, Ngô Từ….Tất cả những người yêu nước ấy, khác nhau về thành phần xã hội và dân tộc, về quê quán và cuộc sống, nhưng đều cùng một mối thù không đội trời chung với quân giặc và cùng một lý tưởng quyết tâm đuổi giặc cứu nước.

khởi nghĩa lam sơn

II. NHỮNG THÁNG NĂM CHIẾN ĐẤU ĐẦU TIÊN

Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa đang được xúc tiến về mọi mặt thì bọn tay sai của địch đánh hơi thấy. Tên tham chính Lương Nhữ Hốt vốn quê ở Thanh Hoá mật báo với quân Minh: “Chúa Lam Sơn chiêu vong nạp bạn, đãi ngộ quân lính rất hậu, chí nó không phải là nhỏ. Nếu giao long gặp được mây mưa thì tất không phải là con vật trong ao nữa đâu. Nên sớm trừ đi, chớ để lo về sau”. Quân địch âm mưu bóp chết cuộc khởi nghĩa từ trong trứng nước. Trên cơ sở công việc chuẩn bị đã đạt kết quả và trước tình hình đó, Lê Lợi và bộ tham mưu quyết định khởi nghĩa.

Ngày 2/1 năm Mậu Tuất (7/2/1418), vào dịp tết cổ truyền của dân tộc, tại Lam Sơn, Lê Lợi cùng toàn thể nghĩa quân làm lễ tế cờ khởi nghĩa, mở đầu cuộc đấu tranh vũ trang chống quân Minh. Lê Lợi tự xưng là Bình Định vương, truyền hịch kêu gọi nhân dân nổi dậy cứu nước.

Nghĩa quân Lam Sơn bước vào cuộc chiến đấu với quân thù trong một so sánh lực lượng hết sức chênh lệch về mặt số lượng. Toàn bộ lực lượng nghĩa quân không quá 2000 người, trong đó lực lượng nòng cốt chỉ có 200 quân thiết đột, 200 nghĩa sĩ và 300 dũng sĩ. Lúc ấy, như Nguyễn Trãi nói: “ Cơm ăn chẳng hề hai bữa, áo mặc chẳng phân đông hè, quân lính chỉ độ vài nghìn- khí giới thì thật tay không”.

Bằng lối đánh mai phục lợi hại, nghĩa quân đã đánh thắng những trận lớn ở Lạc Thuỷ, ở Mường Một năm 1418 và ở Mường Chánh (Lang Chánh) năm 1419.

Tuy nhiên, trong hơn năm đầu của cuộc khởi nghĩa, những cuộc vây quét lớn của địch cũng gây cho nghĩa quân nhiều tổn thất. Trong một trận càn quét ở vùng Lam Sơn năm 1418, quân Minh được bọn việt gian ở địa phương dẫn đường, đã đánh úp sau doanh trại nghĩa quân. Chúng quật mồ mả, tổ tiên của Lê Lợi, lùng bắt những người thân thuộc của nghĩa quân trong đó có cả vợ và con gái của Lê Lợi.

Cũng trong khoảng thời gian này, trước những cuộc tiến công lớn của địch, nghĩa quân phải hai lần rút lên núi Chí Linh (hay Linh Sơn) là một ngọn núi cao, hiểm yếu bậc nhất ở thượng du sông Chu (nay thuộc xã Giao An, giữa Lang Chánh và Thường Xuân).

Lần thứ nhất rút lên núi Chí Linh, nghĩa quân bị tuyệt lương đến gần 2 tháng liền. Trong thời gian đầu của cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ. Nhớ lại những ngày chiến đấu ác liệt đó, Nguyễn Mộng Tuân đã hết lời ngợi ca khí thế anh hùng và tinh thần đánh giặc ngoan cường, mưu trí của nghĩa quân Lam Sơn.

“Chín phần tử, một phần sinh, tuy ở chốn hiểm nghèo, mà ngất trời khí thế.

Bao nhiêu nghịch, bấy nhiêu thuận, khéo tuỳ cơ lợi dụng, thật tột bậc anh hùng”.

(Phú núi Chí Linh)

Lần thứ 2 rút lên núi Chí Linh, vào tháng 5 năm 1419 quân địch đuổi theo bổ vây bốn mặt, quyết tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Trong tình thế hiểm nghèo đó, Lê Lai đã tự nguyện cải trang làm Lê Lợi, dẫn 500 quân ra phá vòng vây để đánh lừa quân địch. Lê Lai và đội quân cảm tử đã hy sinh để cứu Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa khỏi một tai hoạ nguy hiểm.

Lê Lai là một phụ đạo sách Dựng Tú (Ngọc Lạc, Thanh Hoá), có mặt trong hội thề Lũng Nhai năm 1416. Cả nhà Lê Lai bao gồm người anh cả là Lê Lãn, và 3 con trai là Lê Lô, Lê Lộ, Lê Lâm đều tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, và 4 người (trừ Lê Lâm) đã hy sinh cho sự nghiệp cứu nước. Cái chết của Lê Lai là cái chết của người anh hùng xả thân vì nước.

(Theo Đại cương Lịch sử Việt Nam – Đoàn Thị Hồng Điệp)